Bài 25: ƠN PHỤC SINH VÀ ĐỜI SỐNG VĨNH CỬU

(x. SGLC từ 0992 đến 1065)

“Chúng ta đang hành trình hướng về chung cục lịch sử nhân loại” (MV 45). “Chúng ta không biết được thời gian hoàn tất của trái đất và nhân loại… nhưng chúng ta biết Thiên Chúa đã dọn sẵn một chỗ ở mới và một đất mới… Khi ấy sự chết sẽ bị đánh bại, con cái Thiên Chúa sẽ phục sinh trong Chúa Kitô” (MV 39). “Đấng làm cho Đức Giêsu sống lại… cũng sẽ làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 3,11).

 

I. Ý Nghĩa Của Sự Chết Theo Kitô Giáo

Chết là một sự thật hiển nhiên không ai thoát khỏi và chối cãi. Người Việt Nam thường nghĩ: xác là thể phách còn hồn là tinh anh, xác là thể phách nên phải chết, hồn là tinh anh nên còn. Tin tưởng này không ai lạ với niềm tin Kitô giáo: chết là hồn lìa khỏi xác, hồn là thiêng liêng nên bất tử, xác là vật chất nên hư nát. Chết là chấm dứt cuộc sống trần gian. Nhưng tại sao chết? Đó là bí ẩn cao nhất về thân phận con người (MV 18). Kitô giáo dạy rằng: Thiên Chúa sáng tạo con người là hồn và xác. Người không muốn con người phải chết, chết là hậu quả của tội lỗi (Rm 5,12).

Khi Chúa Kitô đến trần gian, chấp nhận chịu chết vì muốn vâng phục thánh ý Chúa Cha, rồi được sống lại và về trời, Người đã biến đổi ý nghĩ sự chết. Do đó ai tin Chúa Kitô thì:

  • “Chết là một mối lợi” (Pl 1,21) vì được ở với Chúa Kitô, theo nghĩa được hiệp thông trọn vẹn với Người mãi mãi (pl 1,23).
  • Chết là sự sống được biến đổi: “Ai tin Chúa Kitô thì khi chết, sự sống không bị tiêu hủy mà được biến đổi để họ về hưởng phúc vĩnh cửu trên trời” (Kinh Tiền tụng I lễ Cầu Hồn).

Như vậy, “phận con người là phải chết một lần rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9,27). Không có chuyện đầu thai sang kiếp khác. Nên Kitô hữu phải chuẩn bị cho giờ chết của mình để được chết lành, và xin Đức Maria chuyển cầu cho “khi này và trong giờ lâm tử”.

II. Sự Sống Lại Của Chúa Kitô Và Của Chúng Ta

Việc xác sẽ sống lại vẫn là một điều xưa nay khó được chấp nhận, nhất là đối với con người sống trong thời đại khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên trong Kinh Tin Kính, Kitô hữu tuyên xưng: Tôi tin xác loài người sẽ sống lại. Niềm tin này đã có từ thời Cựu Ước (2Mt ct 7,9-14) và được xác quyết mạnh mẽ khi Chúa Kitô tuyên bố: “Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25) “ai tin Ta”… “ai ăn thịt và uống máu Ta… Ta sẽ cho họ sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Người cũng làm phép lạ cho một số người chết được sống lại (x. Lc7, 11-7 hoặc Ga 11) nhưng phép lạ này là dấu chỉ loan báo sự sống lại của Người, vì sự sống lại không có nghĩa là Người trở về đời sống như trước, nhưng là sau khi chết, hồn lìa xác, xác Người được an táng (x. Mt 27,5.59-60), ngày thứ ba Người sống lại với “xác vinh hiển” (Pl 3,21) để sống vĩnh cửu không bao giờ chết nữa.

  • Sự sống lại của ta là gì? Khi ta chết, hồn lìa xác, xác bị hư nát, hồn gặp Chúa Kitô để được xét xử và nhận thưởng phạt, rồi đến ngày sau hết hồn được hiệp nhất với xác đã được biến đổi do quyền năng phục sinh của Chúa Kitô.
  • Ai sẽ sống lại? Tất cả những ai đã chết, tuy nhiên không phải tất cả được vào Nước Trời, vì “ai đã làm điều lành thì sẽ sống lại để được sống, ai đã làm điều dữ thì sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,29).
  • Sống lại như thế nào? Sống lại với xác riêng của mình nhưng được biến đổi thành “xác có thần khí” (1Cr 14,44) không hư nát. Còn chuyện sống lại bằng cách nào thì vượt quá trí tưởng tượng và hiểu biết của ta.
  • Sống lại khi nào? Sống lại vào ngày sau hết, ngày tận thế. Ngày Chúa Kitô quang lâm (1Tx 4,16).

Vì thế, ta phải tôn trọng thân xác của mình cũng như của tất cả mọi người, đặc biệt những người đau khổ. Nghi thức an táng Kitô giáo chứng tỏ niềm tin về thân xác sẽ sống lại.

III. Phán Xét Riêng

Chúa Kitô là Đấng cứu độ nên Chúa Cha trao cho Người quyền xét xử để thưởng phạt mọi người. Tân Ước nói đến việc thưởng phạt ngay sau khi con người chết, dựa vào dụ ngôn “người giàu và anh nghèo Ladarô” (x. Lc 16,22) và dựa vào lời Đức Giêsu nói với người trộm lành (x. Lc 23,43). Ngay sau khi chết, mỗi người được phán xét riêng tùy theo việc họ sống hiệp thông với Chúa Kitô, để hiệp thông với Thiên Chúa, với mọi người và vũ trụ vạn vật. Họ sẽ được thưởng hay chịu phạt; hoặc là chịu thanh luyện , hoặc được hưởng hạnh phúc Nước Trời, hoặc chịu phạt đời đời.

IV. Trời Hay Thiên Đàng

Những người đã chết trong ơn nghĩa Chúa và được thanh luyện toàn hảo thì được ở với Chúa Kitô muôn đời, nghĩa là được vào Nước Trời hay Thiên Đàng. Trời không phải ở bên trên tầng xanh nhưng là một tình trạng, “một cuộc sống hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi, với Đức Trinh Nữ Maria, các Thiên Thần, và tất cả mọi người lành thánh”. Đó là cùng đích tối hậu, là sự hoàn thành mọi khát vọng sâu xa nhất của con người, là tình trạng hạnh phúc tuyệt vời và dứt khoát. Sự hiệp thông trong hạnh phúc với Thiên Chúa, trong Chúa Kitô, với mọi người lành và toàn thể tạo thành là một mầu nhiệm mà thánh Phaolô diễn tả là “mắt chưa thể thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới” 1Cr 2,9). Kinh thánh tìm cách diễn tả bằng những hình ảnh như: sự sống, ánh sáng, hòa bình, tiệc cưới, rượu trong Nước Trời, nhà của Chúa Cha, Giêrusalem trên trời….

V. Luyện Ngục

Những người đã chết trong ơn nghĩa Chúa thì chắc chắn đã được cứu độ, nhưng nếu chưa được thanh luyện hoàn hảo thì phải được thanh luyện cho thật tinh tuyền. Hội Thánh quen gọi là thanh luyện nơi luyện ngục. Thực ra luyện ngục không phải là một nơi nào, nhưng là một tình trạng hồn phải thanh luyện. Giáo lý này dựa vào truyền thống thời Cựu Ước quen cầu nguyện cho những người đã chết (x. 2Mcb 12,46). Và ngay từ thời đầu, Hội Thánh đã quen kính nhớ người chết, đặc biệt là trong thánh lễ, để chuyển cầu cho họ. Hội Thánh còn khuyên ta bố thí, lãnh ân xá, và làm các việc hãm mình đền tội giúp cho họ sớm được vào Nước Trời.

VI. Hỏa Ngục

Những ai đã hoàn toàn cố tình không muốn hiệp thông với Chúa Kitô, là đã tự loại mình ra khỏi hiệp thông với Thiên Chúa và với mọi người làm thánh. đó là những người cố tình phạm tội nặng, xúc phạm đến Thiên Chúa, đến mọi người khác, đến vũ trụ vạn vật, mà không chút ăn năn hối cải, sau khi chết họ phải ở trong hỏa ngục đời đời. Đức Giêsu đã nhiều lần nhắc nhở tới hỏa ngục (x. Mt 5,22-29) đến “lửa không hề tắt” (Mt 3,12) đến nơi “khóc lóc nghiến răng” (Mt 13,42). Thực ra hỏa ngục không phải một nơi nào, mà là tình trạng con người luôn cảm nghiệm phải xa cách Thiên Chúa, là sự sống và hạnh phúc mà mình hằng khao khát, xa cách muôn trùng và muôn đời. Thiên Chúa không tiền định cho ai phải vào hỏa ngục (x. DS 397). Người luôn tôn trọng tự do mỗi người. chính mỗi người quyết định số phận vĩnh cửu của mình, nên Hội Thánh mời gọi mỗi người phải sử dụng tự do của mình với tinh thần trách nhiệm thật cao.

VII. Phán Xét Chung

Đến ngày sau hết tất cả mọi người chết sẽ sống lại “người lành cũng như người dữ” (Cv 24,15). Chúa Kitô sẽ đến trong vinh quang có các Thiên Thần hộ tống để xét xử công khai mỗi người trước tất cả mọi dân mọi nước (x. Mt 25, 32-46). Người là Sự Thật nên sẽ làm cho toàn bộ sự thật về mối liên hệ của mỗi người với Thiên Chúa được phơi trần ra, cùng với mọi hậu quả tốt xấu của nó. Người sẽ cho ta hiểu biết ý nghĩa tối hậu của công trình sáng tạo và kế hoạch cứu độ, hiểu biết những đường lối kÿ diệu mà Thiên Chúa quan phòng đã dùng để dẫn đưa mọi sự tới đích tối hậu. Phán xét chung sẽ mặc khải cho biết sự công chính của Thiên Chúa toàn thắng những bất công do thụ tạo của Người đã phạm, và tình yêu của Người mạnh hơn sự chết.

VIII. Trời Mới Đất Mới

Đến thời sau hết, Nước Trời sẽ đạt tới mức toàn hảo, toàn thể nhân loại và vũ trụ được biến đổi thành “Trời mới đất mới” (2Pr 3,13). Đối với con người, sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa, với nhau và với vũ trụ vạn vật mà Thiên Chúa đã muốn từ khi tạo dựng, và Hội Thánh lữ hành là dấu chỉ và dụng cụ, sự hiệp thông đó nhờ Chúa Kitô sẽ đạt tới toàn hảo viên mãn “không còn chết chóc, khóc lóc, đau khổ nữa” (Kh 21,4) mà chỉ còn hiệp thông trong hạnh phúc và bình an vĩnh cửu. Còn vũ trụ vạn vật cũng được chung hưởng một số phận với những con người công chính, nghĩa là cũng đạt tới cùng đích toàn hảo viên mãn nhờ Chúa Kitô, không còn bị ô nhiễm, bị sử dụng vào chuyện xấu, “không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,21).

IX. Hạnh Phúc Vĩnh Cửu Và Kitô Hữu Hôm Nay

Người Việt Nam nào cũng mong được hạnh phúc, thích làm phúc, và muốn thoát khỏi vô phúc, cũng như tất cả mọi người ai cũng khao khát hạnh phúc. Chúa Kitô đã đến loan báo và bảo đảm về hạnh phúc thật, hạnh phúc ấy chỉ có trong Nước Trời. Và Nước Trời đây chính là sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa Ba Ngôi, với nhau và với vũ trụ vạn vật trong tình yêu, hạnh phúc viên mãn và vĩnh cửu. Vì thế, Kitô hữu hôm nay cần quan tâm đến mấy điểm cụ thể sau đây:

  1. Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu không thể có ở đời này

Vì con người mang khát vọng tuyệt đối, nên không có gì ở đời này có thể lắp đầy, không người nào và tập thể xã hội nào có thể mang lại hạnh phúc vĩnh cửu cho tất cả mọi người. Trái lại, chỉ một mình Chúa Kitô có thể thỏa mãn được khát vọng sâu sắc nhất của con người, vì chính Người đã chia sẻ thân phận con người, đã chết và sống lại, bước vào hạnh phúc vĩnh cửu trong Nước Trời. Người là khởi đầu và bảo đảm chắc chắn rằng có hạnh phúc đích thực vĩnh cửu trong Nước Trời.

  1. Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu không phải là ảo tưởng

Nhằm ru ngủ hay lừa dối con người sống tiêu cực thụ động, nhưng là một sự thật được Chúa Kitô mạc khải và thể hiện bằng chính cuộc sống của Người. Sự thật này không được làm suy giảm mối quan tâm của Kitô hữu để phát triển trái đất này, trái lại nó phải khơi dậy và kích thích mối quan tâm đó để họ làm cho các tiến bộ trần thế thực sự góp phần vào việc tổ chức xã hội loài người tốt đẹp hơn (x. MV 39).

  1. Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu tùy thuộc vào Amen của Kitô hữu

Kinh Tin Kính kết thúc bằng Amen. Trong tiếng Do thái “Amen” có cùng một gốc với “tin”, và gốc này có nghĩa là chắc chắn, có thật trung tín. Tôi tin là tôi Amen đối với mọi lời nói, lời hứa, và mọi điều răn của Thiên Chúa. Tôi tin chắc chắn vì Thiên Chúa là Amen (x.Is 65,16). Đấng trung tín, đáng tin cậy. Thiên Chúa lại biểu hiệu sự trung tín ấy nơi Con của Người là Chúa Kitô, nên Chúa Kitô cũng là Đấng Amen (x. Kh 3,14), là sự thật chắc chắn. Và Chúa Kitô đã dạy: “Tất cả những ai thấy Người Con, và tin vào Người Con thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga ,40). Vì thế, Hội Thánh quen kết thúc mọi kinh nguyện bằng Amen, để biểu lộ và tuyên xưng niềm tin. Kitô hữu sống theo điều mình Amen là bảo đảm chắc chắn được hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu.