Bài 26: PHỤNG VỤ

(x. SGLC từ 1066 đến 1112)

“Hội Thánh long trọng tuyên xưng đức tin qua Phụng Vụ. Trong Phụng Vụ, Chúa Cha được tôn thờ là cội nguồn và cùng đích các việc cử hành. Chúa Con tái diễn mầu nhiệm Vượt Qua để ở lại với Hội Thánh, Chúa Thánh Thần soi sáng Hội Thánh trở thành Bí tích phổ quát của ơn cứu độ. Còn Hội Thánh loan báo và cử hành Mầu nhiệm Vượt qua để các tín hữu sống và làm chứng mầu nhiệm ấy trong thế giới”. (SGLC 1066).

 

I. Tại Sao Có Phụng Vụ

Con người có nhiều mối liên hệ với nhau, như: vợ chồng, cha mẹ và con cái, trong gia đình; thày cô với học trò trong học đường, người dân với tổ tiên, với các anh hùng dân tộc, với các biến cố quan trọng của đất nước; ngoài ra còn có các liên hệ do tôn giáo, do nghề nghiệp… Các mối liên hệ này, được bày tỏ và duy trì bằng lời nói, cử chỉ, hành động, và được tổ chức trong các cuộc lễ hội. Truyền thống Á Đông chúng ta coi đó là lấy lễ nghĩa để bảo tồn tâm tình (Dĩ lễ tồn tâm). Trong Kitô giáo, thời Cựu Ước, công trình của Thiên Chúa thực hiện cho loài người và vũ trụ, được tiên báo qua những kỳcông vĩ đại của Người, như: sáng tạo, tuyển chọn dân Ít-ra-en, giải phóng dân khỏi nô lệ ai Cập. Và dân Ít-ra-en ghi nhớ các kỳ công đó để ca tụng, cảm tạ Thiên Chúa. Đến thời Tân Ước, công trình của Thiên Chúa được Chúa Kitô hoàn thành, đặc biệt bằng cuộc khổ nạn hồng phúc, cuộc phục sinh từ cõi chết và lên trời vinh hiển (x. PV 5). Đây chính là Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, Người thực hiện Mầu nhiệm này để cứu độ thế giới và tôn vinh Chúa Cha. Sang thời của Hội Thánh, mầu nhiệm này được loan báo và hiện tại hóa trong phụng vụ, để “các tín hữu đem cuộc sống mình diễn tả và biểu lộ cho những người khác mầu nhiệm Chúa Kitô và bản tính đích thực của Hội Thánh chân chính” (PV 2). Như vậy có Phụng vụ là để một đàng Thiên Chúa Ba ngôi tiếp tục thực hiện công trình cứu chuộc là thi ân giáng phúc cho mọi người (x. Ep. 1,9); đàng khác để Hội Thánh vừa cảm tạ Thiên Chúa về phúc lộc khôn tả của Người (2Cr. 9,15), vừa ca tụng vinh quang Người (Ep 1,6), vừa được hưởng nhờ những ân phúc ấy (PV 10).

II. Chúa Cha

Là nguồn mạch và cùng đích phụng vụ. Tân Ước tuyên xưng và tôn thờ Chúa Cha là Đấng chúc lành và giáng phúc (x. Ep 1,3), nghĩa là Đấng ban sự sống, sáng tạo, nguồn mạch mọi ơn phúc trong suốt lịch sử cứu độ. Thực vậy, thời Cựu Ước, Chúa Cha thực hiện những kÿ công vĩ đại, giao ước với ông Abraham, cứu dân Ít-ra-en khỏi nô lệ ai cập. Vì thế, dân nhớ ơn và đáp trả bằng tôn thờ cảm tạ một mình Người. Thời Tân Ước, Chúa Cha sai Chúa Con xuống thế làm người, hoàn thành cuộc vượt qua cõi chết để sống lại vinh hiển, và đổ tràn ơn Cứu Độ cho mọi người. Người còn “nhờ Con của Người mà trao ban cho Hội Thánh ơn phúc chứa đựng mọi ơn phúc là Chúa Thánh Thần” (SGLC 1082). Vì thế, Hội Thánh hôm nay cử hành Phụng Vụ với Chúa Kitô, và nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, để đáp trả tình thương của Chúa Cha. Trong Phụng Vụ, Chúa Cha được tuyên xưng và tôn thờ như nguồn mạch mọi chúc phúc cho nhân loại và vũ trụ, và mọi chúc tụng, tôn vinh của toàn thể Hội Thánh đều qui về cùng đích là Chúa Cha (x. Kinh Tán Tụng: chính nhờ Chúa Kitô ….)

III. Chúa Con Hoạt Động Trong Phụng Vụ

  • 1. Khi còn sống trên trần gian

Chúa Kitô dùng lời giảng dạy để loan báo, và dùng mọi hoạt động để thực hiện trước Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người (x. Mt 15,21 và Ga 11, 1-4). Khi đến giờ của Người, Người đã hoàn thành Mầu Nhiệm Vượt Qua bằng chịu chết, sống lại và về trời, “chỉ một lần là đủ” (Rm 6,12). Nhưng Mầu Nhiệm này không phải là một biến cố “như mọi biến cố lịch sử khác đã chìm vào quá khứ” (SGLC 1085). Trái lại, Mầu Nhiệm ấy vượt trên thời gian và luôn được Chúa Kitô hiện tại hóa trong Phụng Vụ (x.PV 6).

  • 2. Khi về trời hưởng vinh quang bên hữu Chúa Cha

Chúa Kitô hiện tại hóa Mầu nhiệm Vượt qua bằng cách đổ tràn Thánh Thần trong Hội Thánh là thân thể Người, và sai các Tông Đồ, cũng như trao quyền thánh hóa cho các Ngài, để loan báo và cử hành Mầu nhiệm ấy. Rồi các Tông Đồ lại trao ban quyền thánh hóa ấy cho những người kế vị qua Bí Tích Truyền Chức (SGLC 1087). Như vậy trong phụng vụ ở trần gian, Chúa Con luôn ở với Hội Thánh: Người hiện diện trong Thánh Lễ, trong bản thân thừa tác viên, trong hình bánh hình rượu, trong các bí tích, trong khi công bố Lời Chúa, trong khi cầu nguyện và hát thánh vịnh (x. PV 7), và Hội Thánh luôn kết thúc các lời nguyện bằng câu: “Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”.

IV. Chúa Thánh Thần Và Hội Thánh Trong Phụng Vụ

Trong kế hoạch cứu độ, Chúa Thánh Thần luôn giữ vai trò làm cho Hội Thánh hiệp thông với sự sống và sứ mệnh của Chúa Kitô.

  • 1. Chúa Thánh Thần chuẩn bị cho Hội Thánh tiếp nhận Chúa Kitô

Ngay từ thời Cựu Ước, Hội Thánh đã được “tiên báo bằng hình bóng, được chuẩn bị kỳ diệu trong lịch sử dân Ít-ra-en và trong giao ước cũ” (GH 2). Do đó, Hội Thánh đã giữ lại nhiều yếu tố trong việc tế tự của dân Ít-ra-en, như đọc “Kinh Thánh Cựu Ước”, cầu nguyện bằng Thánh vịnh; và nhất là tưởng niệm những biến cố lớn có liên quan đến Mầu nhiệm Chúa Kitô, như giao ước với ông Abraham, xuất hành, vượt qua biển Đỏ… Chúa Thánh Thần đã lột màn che các hình bóng để ta hiểu: tàu ông Nôe thoát lụt hồng thủy tiên báo sự cứu độ do Bí tích Rửa Tội, Mana trong sa mạc tiên báo “bánh thật bởi trời” (Ga 6,32) là Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh thể. Hội Thánh còn tổ chức Mùa Vọng, Mùa Chay, canh thức Phục Sinh để sống lại những biến cố lớn của Giao ước cũ.

  • 2. Chúa Thánh Thần nhắc nhở Mầu nhiệm Chúa Kitô

Chúa Thánh Thần “sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26) nghĩa là trong Phụng vụ, Chúa Thánh Thần giúp cho cả người công bố hay giảng giải Lời Chúa, cũng như mọi người lắng nghe, được hiểu biết Lời Chúa và hiệp thông với Chúa Kitô hơn, để cùng nhau đáp ứng bằng một niềm tin sâu sắc hơn: “Chính lời Cứu rỗi nuôi dưỡng đức tin trong tâm hồn các tín hữu: chính đức tin này khai sinh và phát triển sự hiệp thông giữa các tín hữu” (LM 4). Người cũng giúp cả cộng đoàn nhớ lại những kÿ công Chúa Kitô đã thực hiện cho ta, vì “kế hoạch mặc khải được thực hiện bởi cả việc làm lẫn lời nói, cả hai gắn bó chặt chẽ với nhau… Lời nói công bố việc làm và giúp khám phá ra mầu nhiệm chất chứa trong đó”. (MK 2). Chúa Thánh Thần nhắc cho Hội Thánh nhớ, để Hội Thánh cảm tạ và tôn vinh Thiên Chúa. Vì thế trong Thánh Lễ, sau Kinh Truyền Phép là Kinh Tưởng Niệm (Anamnèse) và Kinh Tán tụng: Chính nhờ Chúa Kitô…

  • 3. Chúa Thánh Thần hiện tại hóa Mầu nhiệm Chúa Kitô

Mầu nhiệm Chúa Kitô được Hội Thánh cử hành, và mỗi khi cử hành thì Chúa Thánh Thần hiện tại hóa Mầu nhiệm đó. Trước khi truyền phép, chủ tế đọc kinh khẩn cầu (Epiclèse), Chúa Thánh Thần biến đổi lễ vật trở thành Mình Máu Chúa Kitô, để tín hữu có thể hiệp thông với Chúa Kitô, nếm trước cuộc hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa Ba Ngôi. Sứ mệnh của Chúa Thánh Thần trong Phụng Vụ là hiệp thông. Hội Thánh cầu chúc: “Ân sủng của Đức Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” (2Cr 13,13) đầy tràn trong cộng đoàn, để mọi người trở nên đồng hành đồng dạng với Chúa Kitô, xây dựng sự hiệp nhất trong Hội Thánh, và tham gia sứ mệnh của Hội Thánh bằng chứng tá và hoạt động bác ái.

V. Phụng Vụ Là Gì

Phụng vụ dịch từ tiếng Hy lạp “leiturgia” nghĩa gốc là hoạt động công cộng, dịch vụ cho dân chúng. Truyền thống Kitô giáo hiểu đó là việc Dân Thiên Chúa tham gia công trình của Thiên Chúa (x. Ga 17,4). Trong Tân Ước, Phụng Vụ có ý chỉ không những việc thờ phượng Thiên Chúa, mà cả việc loan báo Phúc Âm (x.ra 15,16) và thi hành bác ái nữa (x. Rm 15,27), nghĩa là bao gồm việc phục vụ Thiên Chúa và phục vụ mọi người. Phụng vụ mang nhiều ý nghĩa và đặc tính phong phú, có thể tóm lại như sau:

  • 1. Phụng vụ để cảm tạ tôn vinh Thiên Chúa Ba Ngôi

Phụng vụ là việc thờ phượng mà Hội Thánh dâng lên Chúa Cha, để cảm tạ về phúc lộc khôn tả Người đã ban trong Đức Giêsu Kitô, và để ca tụng sự vinh hiển của Người, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần (PV 6).

  • 2. Phụng vụ là một hoạt động công cộng toàn hảo

Phụng vụ là việc Hội Thánh tham dự chức tư tế (thờ phượng), ngôn sứ (loan báo Lời Chúa) và vương giả (phục vụ bác ái) của Chúa Kitô, nghĩa là không phải việc của một cá nhân hay một nhóm người, nhưng là việc của toàn thể Hội Thánh, dầu thừa tác viên của Hội Thánh chỉ cử hành một mình mà thôi, song họ cử hành nhân danh nhiệm thể Chúa Kitô, gồm cả Đầu và các chi thể. “Không một hành vi nào khác của Hội Thánh có hiệu lực bằng” (PV 7).

  • 3. Phụng vụ được diễn đạt

Bằng những dấu chỉ khả giác, bao gồm lời nói, cử chỉ và các biểu tượng, như: bánh, rượu, nước, dầu… và được thể hiện cách khác nhau, theo từng dấu chỉ, như: các Bí Tích, Lời Chúa, lời cầu nguyện, và hát Thánh vịnh (PV 7).

  • 4. Phụng vụ giúp

Tăng cường đức tin, củng cố đức Cậy và phát huy đức Mến cho tín hữu, để chính đời sống họ có thể biểu hiện Hội Thánh như dấu hiệu hữu hình của mối hiệp thông giữa Thiên Chúa, với con người và với vũ trụ vạn vật, nhờ biết sống hiệp thông trong tình yêu, và ăn ở xứng đáng với ân huệ họ lãnh nhận. (PV 10).

  • 5. Phụng vụ có tính cách chung

Phụng vụ làm cho tín hữu đang lữ hành trên trần thế, được cảm mến trước Phụng Vụ trên trời: “Phụng vụ trần gian là nơi chúng ta hợp cùng toàn thể đạo binh trên trời đồng thanh ca ngợi tôn vinh Chúa… Chúng ta mong đợi Đấng Cứu Thế là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, cho đến khi chính Người là sự sống chúng ta sẽ xuất hiện với Người trong vinh quang” (PV 8).

VI. Kitô Hữu Với Phụng Vụ

Kitô hữu Việt Nam đang sống trong lòng một dân tộc có nhiều lễ hội phong phú, như: lễ Tết Nguyên Đán, lễ Tết Trung Thu, lễ giỗ tổ Hùng Vương, lễ kỷ niệm các anh hùng dân tộc, lễ cưới, lễ giỗ, lễ an táng… Kitô hữu cũng đang sống trong Hội Thánh có nhiều lễ Phụng vụ đầy ý nghĩa sâu sắc như: lễ Giáng Sinh, nhất là Tuần Thánh và lễ Phục sinh, các lễ kính Đức Maria, kính các Thánh… Khi Kitô hữu tham dự các lễ hội của dân tộc, hoặc lễ Phụng Vụ, cần tìm hiểu và suy nghĩ để áp dụng nguyên tắc “dĩ lễ tồn tâm” cho hợp với tinh thần Kitô giáo.

  • 1. Nhờ lễ nghĩa để bảo tồn chân tâm

Lễ nghĩa đây không phải chỉ là nghi lễ bề ngoài với những lời nói suông, những cử chỉ hành động theo thói quen máy móc hoặc giả tạo, những hình thức có tính dị đoan mê tín (tin tưởng mù quáng nhảm nhí). Lễ nghĩa đích thực bao gồm lời nói, cử chỉ hành động phát xuất từ lòng thành, từ chân tâm. Tâm là tim, là lòng, có ý chỉ tinh thần, tình nghĩa, tình cảm đối với người khác, với gia đình hay dân tộc… bao gồm lòng biết ơn, trân trọng, yêu thương, để đền đáp ơn đáp nghĩa. Cái tâm ấy phải chân thành và chung thủy. Chân tâm là lòng thành, và lòng thành làm cho nghi lễ có tình nghĩa chân thật, không giả dối giả hình.

  • 2. Nhờ phụng vụ để “thờ phượng Chúa Cha trong Thần khí và sự thật” (Ga 4,23)

Phụng vụ cũng dùng những lễ nghĩa do Chúa Kitô thiết lập và chủ động, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, để duy trì và bảo tồn cho mọi người trong Hội Thánh cùng có một tấm lòng thành, một chân tâm, vừa biết đón nhận mọi hồng ân cứu độ của Chúa Cha, với tâm tình cảm tạ tôn vinh trong Thần khí và sự thật, vừa biết thông truyền những hồng ân đó cho thế giới một cách hữu hiệu. Vì thế, Kitô hữu phải tham dự Phụng vụ “một cách có ý thức, chủ động và hữu hiệu” với “một tâm hồn chuẩn bị sẵn sàng, chân thật, hòa hợp tâm trí mình với ngôn ngữ, và cộng tác với ân sủng trên trời” (PV 11). Nhờ đó, Kitô hữu có thể “sống hiệp thông trong tình yêu với Thiên Chúa và mọi người… được nung nấu và lôi cuốn vào trong tình yêu thúc bách của Chúa Kitô” (PV 10), để trong đời sống thường ngày họ luôn “giữ trọn những điều Chúa Kitô đã dạy (Mt 25,20) và tham gia mọi công cuộc bác ái, đạo đức và tông đồ (PV 9).